HỘI CHỨNG NGỪNG THỞ KHI NGỦ - MỐI NGUY HẠI VỚI BỆNH NHÂN BỆNH PHỔI TẮC NGHẼN MẠN TÍNH
Hội chứng ngừng thở khi ngủ là gì?
Hội chứng ngừng thở khi ngủ là khi xuất hiện những cơn ngừng thở và/ hoặc giảm thở trong khi ngủ. Những cơn ngừng thở này gây suy giảm oxy trong máu, và gây một loạt các biến cố về sức khoẻ mà bản thân người bệnh không hề biết.
Mối liên quan giữa hội chứng ngừng thở khi ngủ và bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính
Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính là bệnh lý hô hấp rất thường gặp, đặc trưng bới các triệu chứng ho khạc đờm mạn tính dai dẳng, khó thở từ từ tăng dần, gây suy giảm chức năng hô hấp và ảnh hưởng nhiều đến chất lượng cuộc sống. Một trong các yếu tố nguy cơ của bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính phải kể đến là thuốc lá và khói đun bếp rơm, rạ. Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính tiến triển theo nhiều giai đoạn, trong đó có những đợt cấp khiến bệnh nhân phải nhập viện. Những đợt cấp này khiến cho tình trạng chức năng hô hấp nói riêng và sức khoẻ nói chung của bệnh nhân suy giảm nhanh chóng, dẫn đến các giai đoạn phụ thuộc máy thở thậm chí tử vong.
Một trong các nguyên nhân khiến cho bệnh nhân dễ mắc nhiều đợt cấp là đồng mắc với bệnh lý ngừng thở khi ngủ. Ở bệnh nhân bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính, sự suy giảm oxy máu trở nên trầm trọng hơn so với người bình thường, đặc biệt là khi bệnh nhân bước vào giai đoạn giấc ngủ có cử động mắt nhanh (giấc ngủ REM), lúc này có sự mất trương lực các cơ hô hấp, các nỗ lực hô hấp khi đó chỉ phụ thuộc vào cơ hoành vốn đã hoạt động kém ở bệnh nhân bệnh phổi mạn tính. Bên cạnh đó, những bệnh nhân đồng mắc cả hai bệnh sẽ có nguy cơ rối loạn nhịp tim, tăng áp động mạch phổi và suy tim nặng hơn theo báo cáo của tổ chức GOLD 2020.
Nghiên cứu của tác giả Carratu (2008) cho thấy khoảng 15% bệnh nhân bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính có đồng mắc với hội chứng ngừng thở khi ngủ, với bệnh nhân bệnh phổi tắc nghẽn giai đoạn 4 thì con số này lên tới 43% (theo nghiên cứu của tác giả Aerias 2014). Sự kết hợp của 2 bệnh lý này làm tăng nguy cơ tử vong lên gấp 7 lần so với chỉ mắc một bệnh đơn độc.
Dấu hiệu nhận biết hội chứng ngừng thở khi ngủ ở người bệnh bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính
Các bệnh nhân bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính có biểu hiện:
- Buồn ngủ, ngủ gật ban ngày
- Ngủ ngáy
- Suy giảm trí nhớ, mất tập trung
- Nhức đầu buổi sáng
- Tiểu đêm
- Cơn ngừng thở khi ngủ được người nhà chứng kiến
- Có chỉ số khối cơ thể cao (BMI> 25)
- Vòng cổ > 43 cm ở nam giới, > 41 cm ở nữ giới
Bệnh nhân bệnh phổi tắc nghẽn có nhiều đợt cấp (trên 2 đợt cấp trong 1 năm), thường xuyên thức giấc trong đêm vì khó thở nên đi khám để tầm soát hội chứng ngừng thở khi ngủ.
Các thăm dò chẩn đoán hội chứng ngừng thở khi ngủ là gì?
Có 4 loại (type) đo đa ký để chẩn đoán hội chứng ngừng thở khi ngủ, trong đó type 1 và type 3 là phổ biến nhất.
Type 1: đo đa ký giấc ngủ ở trung tâm giấc ngủ được theo dõi bởi nhân viên y tế được đào tạo với ít nhất 7 kênh ( điện não, điện mắt, điện cơ cằm, lưu lượng khí qua mũi miệng, gắng sức hô hấp, điện tim, theo dõi SpO2 ± điện cơ chân, tư thế, ngáy).
Type 2: đo đa ký giấc ngủ trong điều kiện không theo dõi với ít nhất 7 kênh. Loại này ít được sử dụng.
Type 3: đo đa ký hô hấp với ít nhất 4 kênh : lưu lượng luồng khí qua mũi + 1 hoặc 2 cử động hô hấp, theo dõi SpO2 và tần số tim hoặc điện tim.
Type 4: 1 hoặc 2 kênh hô hấp, thường xuyên nhất là SpO2 và/hoặc lưu lượng luồng khí qua mũi.
Sau khi đo, bác sỹ sẽ mã hoá các giai đoạn của giấc ngủ, các sự kiện ngừng thở, giảm thở trong khi ngủ, từ đó máy sẽ tính ra chỉ số AHI (chỉ số ngừng và giảm thở) trung bình 1 giờ ngủ trong đêm ngủ. Từ kết quả AHI có thể biết được mức độ nặng của hội chứng ngừng thở khi ngủ.